Nghi quỹ

NGHI QUỸ NHẬP ĐẠO TRÀNG TRÌ CHÚ CHUẨN ĐỀ

0 Comments 02 January 2011

NGHI  QUỸ  NHẬP  ĐẠO  TRÀNG TRÌ  CHÚ  CHUẨN  ĐỀ

Sa môn Thích Viên Đức soạn và truyền lại

I.- NGHI THỨC CHUẨN BỊ VÀO ĐẠO TRÀNG

1- Tắm :  Khi tắm, đọc kệ và Thần chú sau :

Rửa sạch thân thể.

Nguyện cho chúng sanh.

Thân tâm đều sạch.

Trong ngoài thanh tịnh

Om – Bạt chiết ra não ca tra xoa ha (3 lần)

2. Rửa tay :

Lấy nước rửa tay.

Xin nguyện chúng sanh.

Có bàn tay sạch.

Giữ gìn Pháp Phật

Om – chủ ca ra da xoa ha (3 lần)

3. Rửa chân : Khi rữa chân, trước đọc kệ và chú như vầy :

Khi đang rữa chân.

Xin nguyện chúng sanh.

Đầy đủ thần lực.

Mọi việc không ngại

Om – lam xoa ha (3 lần)

4. Rửa mặt : Khi lấy nước rửa mặt, tụng như sau :

Lấy nước rửa mặt.

Xin nguyện chúng san

Được pháp môn tịnh.

Lìa khỏi cấu nhiễm.

Om – lam xoa ha (3 lần)

5. Súc miệng : Khi lấy nước súc miệng, tụng như sau :

Rửa miệng, lưỡi trong sạch.

Nước dơ thành hương hoa.

Ba nghiệp luôn thanh tịnh.

Về phương Tây cùng Phật.

Om – Hảm Om Hán xoa ha (3 lần)

6. Tổng tẩy uế : Khi làm pháp Tổng tẩy uế. Dùng Giải Uế Pháp Ấn Chú Ôsô-sa-ma.

Ấn : Lấy 2 ngón tay câu nhau trong lòng bàn tay, 2 ngón vô danh, ngón giữa, ngón trỏ đứng thẳng. Lấy 2 ngón tay cái mở rộng để trong lòng bàn tay trên 2 ngón tay út, chắp cổ tay lại. Tụng Thần chú :

Om- Tu rị ma rị, ma ma ri ma rị, tu tu rị xoa-ha (7 lần)

Để Ấn Chú nầy gia trì trong nước 7 lần rồi rửa mặt, nhiên hậu mới trì các Thần Chú Pháp… Người tu hành Chú Pháp, nếu thấy tử thi hoặc đàn bà sanh sản, hoặc chỗ lục súc sanh sản, hoặc chỗ máu mủ dơ chảy. Khi thấy những thứ do uế như vậy, tức kết khế Ấn, tụng ngoại uế chú, liền được thành tựu. Chỗ tu hành các Pháp thảy đều có hiệu nghiệm. Nếu không như vậy, khiến người mất linh nghiệm, và bị ương hại, trên mặt sanh ghẻ. Do đó, ngoại uế Thần chú quyết không được quên vậy.

II- Phần lập Đạo Tràng :
1. Đăng Đạo tràng :

Khi lên Đạo tràng, đứng trước Tôn Tượng, tụng như sau :

Khi nhìn Đức Phật.

Nguyện cho chúng sanh

Được mắt không ngại.

Thấy được chư Phật

Om- A Mật Lật Đế Hồng Phấn Tra (3 lần)

2. Tán Phật :

Tiếp theo, tán thán công đức của chư Phật, tụng Kệ Chú như sau :

Tán Phật tướng đẹp.

Nguyện cho chúng sanh

Được như thân Phật.

Đắc pháp Vô tướng

Om- Mâu Ni Mâu Ni Tam Mâu Ni Xoa Ha (3 lần)

3. Tịnh Pháp giới :

Om- Lam Xoa Ha

Để tịnh Đàn tràng, làm pháp sái tịnh như sau: Trì chú trong chén nước 21 biến, rước sái trên Đàn cho dược thanh tịnh .

4. Tịnh Khẩu nghiệp :

Để thanh tịnh các ác nghiệp của miệng, tụng Thần chú sau :

Om- Tu Rị Tu Rị Ma Ha Tu Rị Tu Tu Rị Xoa Ha (3 lần)

5. Tịnh Tam Nghiệp :

Tiếp theo tụng Thần chú dưới đây để thanh tịnh 3 nghiệp: Thân, Miệng, Ý:

Om – Ta Phạ Bà Phạ Thuật Bà Ta Phạ Đạt Ma Ta Phạ Bà Phạ Thuật Độ Hám (3 lần)

6. Phổ cúng dường :

Tiếp theo đọc Chân ngôn cúng dường hết thẩy hoa, hương, ẩm thực lên Chư Phật như sau :

Om – Nga Nga Nẳng Tam Bà Phạ Phiệt Nhựt Ra Hồng (3 lần)

7. Phổ Lễ :

Tụng Chân ngôn Phổ Lễ Chư Phật như sau :

Om – Phạ Nhựt Ra Vật (3 lần)

8. Kiết giới :

Nếu vào Đàn Chuẩn Đề thì dùng Chú Chuẩn Đề (Ngũ Bộ). Tay trái kiết Ấn Bảo Thủ bưng chén nước, tay mặt kiết Ấn Cam Lồ thư chữ Lam vào chén nước. Niệm Chú Ngũ Bộ 21 biến, kiết 10 phương giới. Ngũ Bộ Chú như sau:

Om- Lam. Om- Xỉ Lâm. Om- Mani pát mê hùm. Om- Chiết lệ chủ lệ Chuẩn đề sa-bà-ha. Bộ lâm. Hật rị.

(Lưu ý : Câu chú “Hật rị” được thêm vào thành Lục Bộ chú).

9. Độc nghiệm hoán đảnh :

Sau khi kiết giới đã xong, thì làm Pháp Quán đảnh như sau để khiến đọc tụng Thần chú được linh nghiệm. Lấy 1 lọ nước tịnh thủy, kiết ấn tụng Chú 21 biến, xong rải trên đỉnh đầu.

Ấn : Hai ngón tay cái co nơi trong lòng bàn tay, xoa vịn giáp tiết giữa lóng ngón vô danh, đầu 2 ngón út đứng thẳng, 2 ngón giữa đầu cũng đứng thẳng, 2 ngón trỏ co đứng vịn xoe lưng ngón giữa tiết trên.

Om – bộ tam mạt la, diêm, xoá ha (21 lần)

10. Tốc tật thành tựu :

Nếu muốn thành tựu hết thảy chân ngôn, trước tụng chú nầy 21 biến, tất cả thần chú mau được thành tưụ. Chân ngôn như sau :

Om- tra tra tra ô, trí trí trí trí tra ô, tra ô, tra ô, tra ô, phạ nhật ra tát đát phạ, nhã hồng vãm hộc hật-rị hạc hồng phấn tra, hồng (21 biến)

11. Lễ Phật :

Trưóc tụng Thần chú sau đây :

Na mô đạt xa na , bồ đà câu trí na hồng ô hồng, hộ rô hộ rô tất đà lô dã nể ta ra bà ra tha ta đạt nễ ta bà ha.

Tụng xong, lạy Phật  3 lạy. (Thần chú nầy chép từ trong Kinh Bảo Tràng Thắng, do 10 ức Bồ tát đã nói. Nếu tụng chú 1 biến, lễ Phật 1 bái thời thu hoạch được công đức bằng lễ ngàn vạn ức Đức Phật )

12. Phụng thỉnh Đức Chuẩn Đề :

Lễ xong, kiết Ấn Chuẩn Đề triệu thỉnh Chuẩn Đề Bổn Tôn giáng lâm Đạo tràng. Tay kiết Ấn, miệng tụng chú sau :

Nam mô tát đa nẩm tam miệu tam bồ đề cu chi nẫm đát điệt tha – Om- Chiết lệ chủ lệ Chuẩn Đề phụng thỉnh Chuẩn Đề Bổn tôn giáng lâm Đạo tràng chứng minh công đức Ta bà ha, Bộ lâm.

13.  Cúng dường hương :

Nam mô bà ra bá bồ đà đà ra ma tăng già tả na, ma ha lị đa, bá lô chỉ đế thưóc bá ra tả bồ đề ta đá bà tả, ma ha ta đá bà tả, ma ha ca rô nễ ca tả, đát điệt tha :  Đổ tỷ đổâ tỷ dà dạ đổ tỷ, bề ra bề ra ni, ta bà ha (3 lần)

Tụng 1 biến chú nầy bằng lấy tất cả các thứ hương hoa cúng dường 10 vạn ức chư Phật.

14. Nguyện hương sám hối :

Thần chú sám hối như sau :

Nam mô hắc ra đá na, đá ra dạ da. Na ma a rị da bá lô chỉ đê, thước bá ra dạ, bồ đề ta đá bà dạ, ma ha ta đá bà dạ, ma ha ca lô nĩ ca dã, đát điệt tha: Đổ rô đổ rô, a tây ma tây ma  ha ma rị ni đỗ ba ma  rị ni, đổ bề đổ bề  na mồ na ma, ta bà ha .

Trước tượng Phật hoặc tượng Bồ tát Quán thế Âm, thiêu hương phát lồ sám hối, chí tâm tụng 3 biến tức diệt tất cả tội từ vô thỉ cho đến nay. Các việc mong cầu quyết định kết quả.

Khi vào Đàn trì chú Chuẩn Đề nên sám hối.

Quỳ gối chắp tay, chuyên tâm định ý, tay bưng lư hương, đọc bài nguyện rằng:

Nguyện mây hương hoa nầy

Biến khắp mười phương cõi

Tất cả các Phật độ

Vô lượng hương trang nghiêm

Đầy đủ Bồ tát đạo

Thành tựu hương Như Lai

* Cúng dường hương hoa rồi, đứng dậy lễ kính Tam Bảo:

- Nhất tâm đảnh lễ Lô Giá Na Mâu Ni Thế Tôn  (1 lễ )

- Nhất tâm đảnh lễ A Súc Thế Tôn  (1 lễ )

- Nhất tâm đảnh lễ Bảo Sanh Thế Tôn  (1 lễ )

- Nhất tâm đảnh lễ Quán Tự Tại Vương Thế Tôn  (1 lễ )

- Nhất tâm đảnh lễ Bất Khơng Thành Tựu Thế Tơn (1 lễ )

- Nhất tâm đảnh lễ Cực Lạc Thế Giới A Di Đà Thế Tơn (1 lễ )

- Nhất tâm đảnh lễ Thập Phương Pháp giới chư Phật Thế Tơn (1 lễ)

- Nhất tâm đảnh lễ Thất Câu chi Phật Mẫu Sở thuyết Đại Chuẩn Đề Đà La Ni (1 lễ )

- Nhất tâm đảnh lễ Thập phương Pháp giới Tu Da La Tạng Nhất thiết Đà la ni mơn (1 lễ )

- Nhất tâm đảnh lễ Tỳ Lơ Giá Na Cung điện trung Thất Câu chi Chuẩn Đề Phật Mẫu Bồ Tát Ma-ha-tát (1 lễ )

- Nhất tâm đảnh lễ Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha tát (1 lễ)

- Nhất tâm đảnh lễ Di Lặc Bồ Tát Ma Ha tát (1 lễ)

- Nhất tâm đảnh lễ Hư Khơng Tạng Bồ Tát Ma Ha tát (1 lễ )

- Nhất tâm đảnh lễ Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha tát (1 lễ )

- Nhất tâm đảnh lễ Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha tát (1 lễ )

- Nhất tâm đảnh lễ Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Ma Ha tát (1 lễ )

- Nhất tâm đảnh lễ Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha tát (1 lễ )

- Nhất tâm đảnh lễ Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha tát (1 lễ )

- Nhất tâm đảnh lễ Vơ Năng Thắng Bồ Tát Ma Ha tát (1 lễ )

- Nhất tâm đảnh lễ Đại Thế Chí Bồ Tát Ma Ha tát (1 lễ )

- Nhất tâm đảnh lễ Thập phương Pháp giới Nhất thiết Bồ Tát Ma Ha tát (1 lễ)

- Nhất tâm đảnh lễ Ma ha ca Diếp Tơn giả Chư Đại Thanh Văn Tăng (1 lễ )

- Nhất tâm đảnh lễ Thập phương Pháp giới Nhất thiết Tam thưà Hiền Thánh Tăng   (1 lễ )

Con, Đệ tử …………………..chí tâm sám hối những tội từ vô thỉ sanh tử đến giờ, theo ác lưu chuyển, cùng chung các chúng sanh, tạo nghiệp chướng tội, bởi tham sân si trói buộc, do thân khẩu ý tạo 5 tội vô gián và 10 nghiệp ác, tự làm, bảo người khác làm, thấy kẻ khác làm sanh lòng vui mừng, hoặc vật của tháp, vật của Tăng, tự tại phí dụng. Đối với các người sanh lòng hủy báng, thấy các bậc tu học Thanh văn, Duyên giác, Đại thừa, con ưa sanh lòng mắng chửi, khiến cho các người tu hành tâm sanh buồn phiền, thấy có kẻ nào hơn mình sinh lòng ganh ghét. Đối với pháp thí tài thí thường sanh keo kiệt, bị vô minh che lấp hoặc tâm tà kiến. Không tu nhân lành, khiến ác tăng trưởng. Ở chỗ các Phật mà khởi lên phỉ báng, những tội như vậy, Phật đều thấy biết. Con nay qui mạng, đối trước chư Phật, Bồ tát, Thánh chúng, thảy đều trình bày tội lỗi, không dám che dấu. Tội chưa làm, con không dám gây tạo, những tội đã làm, con đều xin sám hối. Nghiệp chướng đã tạo đáng đoạ tam đồ và ở chỗ tám nạn. Con nguyện đời nầy có bao nhiêu nghiệp chướng đều được tiêu diệt, đã có ác báo, đời sau không thọ. Cũng như quá khứ, hiện tại, vị lai tu bồ-đề hạnh, đã có nghiệp chướng thảy đều sám hối. Nghiệp chướng của con, nay cũng sám hối., hết thảy phát lồ, không dám che dấu. Tội đã làm, nguyện được trừ diệt, tội ác vị lai không dám tạo nữa.

* (Sám hối rồi, quy mạng lễ Tam Bảo)

Con- Đệ tử…………….hết lòng vui mừng tuỳ hỷ, quá khứ hiện tại vị lai tất cả chúng sanh, tu hành bố thí trì giới, tâm huệ đã có căn lành. Con nay thảy đều tâm sanh tuỳ hỷ, do làm phước tuỳ hỷ như vậy, cho nên chắc chắn sẽ thu hoạch được quả tôn trọng vô thượng thù thắng, vô thượng vô đẳng. Lại ở quá khứ vị lai hiện tại, tất cả chư Phật Bồ tát, Thanh văn, Duyên giác đã chứa nhóm vô lượng công đức, con nay chí tâm thảy đều tùy theo mà vui mừng khen ngợi.

* (Tùy hỷ rồi, quy mạng lễ Tam Bảo)

Con- Đệ tử……………chí tâm khuyến thỉnh Mười phưong tất cả chư Phật Thế Tôn, nguyện được Vô thương Bồ đề. Chưa chuyển Pháp luân, con đều chí thành khuyến thỉnh chuyển Đại Pháp  luân, an vui hữu tình. Mười phương chư Phật Thế Tôn muốn xả báo thân vào cõi Niết bàn, con nay cúi đầu đảnh lễ, hết lòng khuyến thỉnh trụ ở đời lâu, độ thoát và an vui hết thảy chúng sanh.

* (Khuyến thỉnh rồi, quy mạng lễ Tam Bảo)

Con- Đệ tử … hết lòng hồi hướng từ vô thỉ đến ngày nay, đối với ngôi Tam Bảo thành tựu các căn lành, cho đến bố thí cho chúng sanh một bát cơm. Lại nữa, đem hết công đức trì tụng bí mật, sám hối, khuyến thỉnh, tùy hỉ, các căn lành ấy thảy đều thu nhiếp đem hồi thí cho tất cả chúng sanh, không tâm hói tiếc, là phần giải thoát căn lành đã nhiếp. Như chư Phật Thế Tôn đã thấy đã biết, không thể tính lường vô ngại thanh tịnh. Những công đức căn lành đã có như vậy, thảy đem hồi thí tất cả chúng sanh, không trụ tâm tướng, không xả tướng tâm. Con cũng như vậy, công đức căn lành, thảy đều hồi thí tất cả chúng sanh, cùng các chúng sanh đồng chứng Vô Thượng Bồ đề, được tất cả trí. Nhân căn lành nầy, lại còn xuất sanh vô lương pháp lành, cũng đều hồi hướng Vô Thượng Bồ Đề. Lại như quá khứ vị lai hiện tại chư Đại Bồ Tát, khi tu hành các căn lành, công đức thảy đều hồi hướng tất cả Chủng trí. Vậy, con đã có công đức căn lành, cũng đều hồi hướng Vô Thượng Bồ Đề, các căn lành ấy nguyện cùng tất cả chúng sanh đều thành Chánh Giác. Như chư Phật ngồi nơi Đạo tràng, dưới cội Bồ Đề, không thể nghỉ bàn, vô ngại thanh tịnh, an trụ nơi Vô Tận Pháp tạng Đà-la-ni, Thủ Lăng Nghiêm Định, phá Ma Ba tuần, vô luợng binh chúng, trong một sát na thảy đều thấu rõ, nơi khoảng nữa đêm được Cam-lồ Pháp, chứng Cam lồ nghiã. Con và chúng sanh nguyện đều đồng chứng Diệu giác như vậy, cũng như chư Phật thị hiện ứng hoá, đắc Vô Thượng Bồ Đề, chuyển Diệu Pháp Luân, độ các chúng sanh.
(Hồi hướng rồi quy mạng lễ Tam Bảo)

Con- Đệ tử…………..chí tâm phát nguyện; nguyện các chúng sanh hết thảy phát tâm Vô Thương Bồ Đề, thường nhớ nghĩ công đức trí tuệ của Mười phương chư Phật. Lại nguyện tất cả chúng sanh phá dứt vô minh, được thấy Phật tánh, cũng như các Đại Bồ tát, tất cả Thiên Long Bát Bộ tăng ích oai quang, ủng hộ quốc độ và nơi Đạo tràng, dẹp các ma oán, khiến con đã tu Pháp yếu bí mật của chư Phật mau được thành tựu.

III- PHẦN NHẬP ĐÀN :

1. Tụng 21 biến chân ngôn sau đây :

Nam mô tất hí lị da, trụy vĩ đà nẫm, đát tha dà đa nẫm.  Úm- vĩ la thời vĩ la thời, ma ha chước yết la, phạt chiết lê phạt chiết la, tát đá tát đá, ta la đế ta la đế, đát la duệ đát la duệ, tỳ đa mạt nễ, tam bàn thệ nễ, đa la mạt để, tất đà a yết lị để, lị diễm, toá ha.

Khi tụng chú nầy, liền kết Ấn như sau : Hai tay bên trong tréo nhau, đứng thẳng 2 ngón tay trỏ, khít nhau, lấy 2 ngón tay giữa quấn vào 2 ngón tay trỏ ở trước lóng thứ nhất, mỗi ngón trỏ đứng vịn nhau, hai ngón cái giáp thẳng nhau. Kiết Ấn để ngang ngực, niệm tụng Mật ngữ. Nếu chưa nhập Đàn, không cho làm các pháp. Nên dùng chân ngôn nầy, tức sẽ được nhập vào Đàn, thì khi làm các pháp tắc không thành tội trộm Pháp.

2. Trì Ngũ Bộ chú :

Ngồi thế Kim cang toạ (nghiã là lấy bàn chân mặt gát lên trên vế chân trái) hoặc tuỳ ý ngồi cũng được. Hai tay kiết Ấn tam Muội (nghiã là lấy tay mặt duỗi ngay ra, để ngữa lên bàn tay trái, rồi 2 ngón tay cái giáp móng với nhau). Để ngang dưới rún, thân cho tề chỉnh, tâm cho an tịnh. Rồi tưởng trên đỉnh đầu ta có chữ LAM (      ) rất tròn sáng như ngọc minh châu hay như mặt trăng rằm. Khi tưởng như vậy rồi thì xả Ấn Tam Muội lên trên đảnh, tay trái kiết Ấn Kim Cang Quyền (Nghiã là lấy ngón tay cái bấm vaò ngón áp út ở giáp bàn tay, rồi 4 ngón kia nắm chặt lại hình như tay cầm cú)

Rồi tay mặt lần chuổi mà tụng như sau:

1- Chú Tịnh Pháp giới :    ÚM- LAM

2- Chú Hộ Thân :   ÚM- XỈ LAM

3- Chú Lục Tự Đại Minh : ÚM- MA NI BÁT NẠP MINH HỒNG

Tụng mỗi chú 08 biến. Khi tụng xong chú nói trên, thì xả Ấn Kim Cang Quyền lên trên đảnh, rồi quỳ xuống tụng bài kệ Chú Chuẩn Đề :

Chuẩn Đề công đức tụ

Tịch tịnh tâm thường niệm

Nhất thiết chư đại nạn

Vô năng xâm thị nhơn

Thiên thượng cập nhơn gian

Thọ phước như Phật đẳng

Ngộ thử Như ý châu

Định hoạch vô đẳng đẳng

Nam mô Thất Câu Chi Phật Mẫu Chuẩn Đề Vương Bồ tát Ma-ha-tát (3 lần, rồi lạy ).

Lúc lạy xong, ngồi kiết Toàn già và kiết Ấn Chuẩn Đề:  Lấy ngón áp út và ngón út bên mặt cùng bên trái xỏ lộn nhau vào trong 2 lòng bàn tay, dựng 2 ngón tay giữa thẳng lên, rồi co 2 ngón tay trỏ mà vịn vào lóng đầu của 2 ngón tay giữa, còn 2 ngón tay cái thì đè trên lóng giữa của ngón tay áp út bên mặt, rồi để lên ngang ngực.

Chí tâm tụng 108 lần Chú Chuẩn Đề và Chú Đại Luân Nhất Tự như sau:

Nam mô Tát đa nẫm tam miệu tam bồ đề Câu chi nẫm đát điệt tha: Úm- Chiết lệ chủ lệ Chuẩn Đề Ta-bà-ha, Bộ lâm (108 lần)

Muốn trì tụng nữa hoặc tùy lòng, nên tụng từ chữ ÚM trở xuống (Úm- Chiết lệ chủ lệ Chuẩn Đề ta-bà-ha, bộ lâm) tụng ký số làm chừng như trên hoặc trì nhiều hơn nữa càng tốt. Khi niệm đủ rồi, muốn nghỉ thì xả Ấn lên trên đảnh. Kế dùng tay mặt kiết Ấn Kim Cang Quyền mà ấn theo thứ tự 5 chỗ sau đây :

1- Trên đảnh

2- Nơi vai trái

3- Ở vai bên mặt

4- Tại ngang ngực

5- Nơi yết hầu

Trong lúc tay ấn vào 5 chỗ ấy, thì miệng đọc Thần chú HỒNG HỒNG liên tục, chừng nào đủ 5 chỗ rồi, thôi tụng, xả Ấn trên đảnh.

3. Phụng tống :

Sau khi trì tụng xong, bấy giờ phải phụng tống Đức Chuẩn Đề Bổn Tôn hoàn bổn xứ. Kiết Ấn Chuẩn Đề tụng Chú như sau :

Nam mô tát đa nẫm tam miệu tam bồ đề câu chi nẫm đát điệt tha: Úm- Chiết lệ chủ lệ Chuẩn Đề ta-bà-ha, bộ lâm (3 lần)

Tiếp trì tụng :

Ngã kim trì tụng Đại Chuẩn Đề

Tức phát Bồ Đề quảng đại nguyện

Nguyện ngã Định Huệ tốc viên minh

Nguyện ngã công đức giai thành tựu

Nguyện ngã thắng phước biến trang nghiêm

Nguyện cộng chúng sanh thành Phật đạo

Ngã tích sở tạo chư ác nghiệp

Giai do vô thỉ tham sân si

Tùng thân ngữ ý chi sở sinh

Nhất thiết ngã kim giai sám hối

A-di-đà Phật thân kim sắc

Tướng hảo quang minh vô đẳng luân

Bạch hào uyển chuyễn ngũ Tu di

Hám mục trừng thanh tứ đại hải

Quang trung hoá Phật vô số ức

Hoá Bồ Tát chúng diệc vô biên

Tứ thập bát nguyện độ chúng sanh

Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn

Nam mô Tây phương Cực Lạc Thế giới Đại từ Đại bi Tiếp dẫn Đạo sư A Di Đà Phật (3lần)

Nam mô A Di Đà Phật (108 lần)

Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát (108 lần)

Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát (108 lần)

Nam mô Chuẩn Đề Vương Bồ Tát (108 lần)

Nam mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ tát (108 lần)

Nguyện ngã lâm dục mạng chung thời

Tận trừ nhất thiết chư chướng ngại

Diện kiến bỉ Phật A Di Đà

Tức đắc vãng sinh Cực Lạc quốc

-  Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sinh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm.

- Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sanh, thâm nhập Kinh tạng, trí tuệ như hải.

- Tự quy y Tăng, đương nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, nhất thiết vô ngại.
Nguyện dĩ thử công đức

Phổ cập ư nhất thiết

Ngã đảng dữ chúng sanh

Giai cộng thành Phật đạo.

Share your view

Post a comment

© 2014 Đại bi. Powered by Wordpress.

Wordpress themes by WooThemes - Premium Wordpress Themes